Một trong những vấn đề người ta hay tự hỏi trong quá trình chụp ảnh là rằng tại sao mình chụp một đằng mà người xem lại hiểu một nẻo hoặc không hiểu gì cả. Tại sao người xem không thể tiếp nhận được tình cảm, cảm xúc mà mình đưa vào ảnh?
Bài viết được trích ra từ một phần trong giáo án lớp Tư duy nhiếp ảnh 4.0 của Beyond Photography.
Mục lục
Phân biệt ‘cảm xúc’ và ‘cảm giác’
Chưa bàn đến cơ chế hoạt động của cảm xúc, điều đầu tiên chúng ta cần nhận thức là sự khác biệt giữa cảm xúc và cảm giác. Một trong những lý do mà người xem khó có thể đồng cảm với người chụp bởi chúng ta đã vô tình chỉ cho họ thông tin về cảm giác, mà thiếu bước chuyển tiếp đến cảm xúc.
Cảm giác là quá trình cơ bản để phát hiện và phản ứng với các kích thích từ môi trường thông qua các cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi và da) của chúng ta. Những cơ quan này có các thụ thể chuyển đổi các dạng năng lượng khác nhau trong môi trường (ánh sáng, âm thanh, hóa chất, nhiệt độ, áp suất) thành tín hiệu thần kinh. Những tín hiệu này sau đó được truyền đến não, nơi chúng được xử lý và giải thích, dẫn đến trải nghiệm có ý thức về một cảm giác.
Trong khi đó, cảm xúc thiên về những trải nghiệm mang tính tinh thần, tâm lý. Cảm xúc thường dẫn đến các hành vi cụ thể, như vui, buồn, giận dữ, hoài nghi,….
Trong nhiếp ảnh, nhiếp ảnh cho cho phép chúng ta ‘cảm giác’ được tấm ảnh thông qua sự tương tác với các yếu tố hình thức: ánh sáng, màu sắc, hành động,… Tuy nhiên, khác với sự trải nghiệm cảm giác trong môi trường thực tế, chúng ta chỉ có thể trải nghiệm cảm giác từ tấm ảnh thông qua thị giác.
Tuy nhiên, việc có trải nghiệm về cảm giác không đồng nghĩa rằng người ta sẽ hồi đáp với tấm ảnh bằng một cảm xúc. Chúng ta sẽ bàn sâu hơn về cơ chế cảm xúc ở phần dưới.

Ví dụ, hình ảnh này cho phép chúng ta có trải nghiệm thị giác vô cùng tuyệt vời thông qua các yếu tố hình thức. Từ ánh sáng mềm mại, đến bề mặt trong suốt nhưng hằn vết nước của ly tương tự với bề mặt tấm kính phía sau và kết cấu sần sùi của thân cây, lá. Những mô tả bên trên chính là cảm giác được hình ảnh truyền tải. Tấm ảnh gợi chúng ta tưởng tượng rằng mình được ‘chạm’ vào những đồ vật đó.
Trong khi đó, màu sắc, với tone màu lạnh, kết hợp với ánh sáng làm chúng ta thấy thoải mái và có phần yên bình. Đây chính là cảm xúc, là phản hồi của chúng ta sau trải nghiệm cảm giác.

Xem thêm về tác động của màu sắc đến tâm lý con người TẠI ĐÂY.
Khi nhìn vào tấm ảnh, một con cá mập hổ dài 14 foot được treo lơ lửng và được bảo quản bằng formaldehyde trong một tủ kính, chúng ta đôi khi chẳng có trải nghiệm cảm giác mấy (có chăng chỉ là chút cảm giác lạnh lẽo bị tác động vô tình bởi màu xanh); và từ đó cũng chẳng có phản hồi, chút cảm xúc nào với hình ảnh cả.
Tuy nhiên, khi tìm hiểu sâu hơn, đi đến mục đích của tác giả: Liệu con cá mập thực sự chết? Hay cái chết thật sự là gì? Con cá mập dường như rất kỳ lạ: nó dường như vừa chết vừa sống.
Chúng ta được kích thích để suy tư, hay đơn giản chỉ là một phản ứng “Ồ” thể hiện cảm xúc kinh ngạc. Không phải là sự kinh ngạc về kích cỡ đồ sộ của tác phẩm, mà là sự kinh ngạc về ‘sự đồ sộ’ của ý tưởng.
Xem thêm về tác phẩm TẠI ĐÂY.
Cơ chế cảm xúc: Sự đồng cảm
Sở dĩ đa phần người xem có cảm xúc tương tự khi xem ảnh trên (không phải kiểu mỗi người một ý) là vì hình ảnh tạo được sự đồng cảm cho người xem thông qua cơ chế tâm lý của màu sắc hay cách ánh sáng hoạt động trong ảnh.
Sự đồng cảm có thể được hiểu là khi chúng ta có sự thấu hiểu người khác về mặt tâm lý, trải nghiệm.
Có hai loại đồng cảm: đồng cảm về nhận thức và đồng cảm về mặt trải nghiệm.
Sự đồng cảm về mặt nhận thức có nghĩa là chúng ta bạn có thể nhận thức và hiểu về mặt lý trí những gì mà người khác đang trải qua, dù chúng ta chưa có những trải nghiệm tương tự.
Ví dụ, nam giới có thể hiểu rằng việc sinh nở đi kèm với sự đau đớn dù cho họ không thể trải nghiệm điều này. Sở dĩ họ có thể hiểu về sự đau đớn này bởi vì chúng ta đều được dạy như thế, chúng ta đều được đào tạo để có nhận thức về việc này.
Trong khi đó, sự đồng cảm về mặt trải nghiệm là sự thấu hiểu lẫn nhau của những người có trải nghiệm tương tự nhau. Đó là sự đồng cảm sâu sắc hơn, mang màu sắc của trải nghiệm tâm lý. Ví dụ, tôi biết bạn buồn khi thi rớt vì tôi cũng từng như vậy.

Ví dụ, khi nhìn vào ảnh, chúng ta cảm nhận được rằng những người trong ảnh đang vui vẻ. Tuy nhiên, chúng ta không biết họ vui vẻ như thế nào? Đây chính là sự đồng cảm về nhận thức. Chúng ta nhận thức được họ đang vui thông qua nét mặt và cử chỉ. Tuy nhiên, (một số) chúng ta chưa có trải nghiệm về việc nhảy múa ở nơi công cộng như thế, nên không thể có sự đồng cảm về trải nghiệm, là rằng họ vui vẻ đến mức độ nào, vui như thế nào.

Tuy nhiên, khi nhìn vào tấm ảnh này (dù không có sự hỗ trợ của màu sắc), chúng ta có thể cảm nhận được nỗi đau một cách rất rõ ràng; một phản ứng vô cùng tự nhiên lập tức phản hồi khi nhìn hình ảnh (có thể là hành động nhăn mặt). Không cần phải tự hỏi đau đến mức nào nữa, bởi vì đa phần mọi người đều có trải nghiệm trong việc bị vật nhọn đâm vào tay, hoặc bộ phận khác.
Cơ chế hoạt động của cảm xúc trong hình ảnh
Ở phần trên, chúng ta đã nói về cơ chế cảm xúc phản ứng của người xem khi xem ảnh. Tuy nhiên, dưới góc độ nhiếp ảnh gia, làm thế nào để họ kiểm soát cách người xem phản ứng với hình ảnh của mình?
Theo đó, chúng ta cần tìm hiểu về cơ chế hoạt động thông tin của hình ảnh. Trong tấm ảnh, có đến 80% lượng thông tin mang tính đại chúng, thuộc về lẽ thường (common sense) hay khuôn mẫu; và 20% còn lại là trải nghiệm riêng biệt – phần này có nhiệm vụ làm người xem phải suy tư về hình ảnh (đôi khi rất nhiều).
Xem thêm về khuôn mẫu (80% thông tin) TẠI ĐÂY.

Tìm hiểu về nhiếp ảnh gia Nobuyoshi Araki TẠI ĐÂY.
Trong bức ảnh, chúng ta thấy một thông tin cực kỳ rõ ràng: một miếng bánh kem dâu – một loại thực phẩm ngọt. Và 20% thông tin ‘kỳ lạ’ được thể hiện qua cách nhiếp ảnh gia chụp chủ thể này: nó không mang lại cảm giác ngon lành như những hình ảnh bánh kem khác, tại sao thế?
Đầu tiên, cái bánh kem cho chúng ta cảm giác dính của lớp kem – được thể hiện rõ ràng và thậm chí còn để lại dấu vết kéo dài ở phần trên của hình ảnh – cùng với sự mềm xốp của lớp bánh và một trái dâu chỉ đơn giản là sần sùi (không mọng nước ngon lành).
Những cảm giác kỳ lạ so với trải nghiệm một miếng bánh kem ngon lành gợi chúng ta cảm xúc kỳ quặc, mơ hồ (trước tiên); gợi liên tưởng đến vụ án mạng, một cảm nhận gì đó về cái chết. Để tìm hiểu rõ hơn, thì The Banquet của Nobuyoshi Araki là sách ảnh thu thập những bức ảnh về những bữa ăn mà Yoko, vợ của Araki, đã nấu trong tháng cuối cùng của cô ấy còn sống.
Từ những thông tin này, chúng ta được gợi để suy ngẫm sâu sắc hơn về miếng bánh kem; tiến sâu hơn vào trải nghiệm tâm lý với hình ảnh này. Một cảm xúc khá rõ ràng có thể nói là sự luyến tiếc thông qua chi tiết ‘đổ vỡ’ hoặc vết kem kéo dài.
Kết
Bài viết này đã trình bày cho bạn một cách cơ bản về cơ chế hoạt động và kiểm soát của cảm xúc trong hình ảnh. Tuy nhiên, còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc người xem nhìn nhận hình ảnh.
Thứ nhất, nhóm đối tượng xem ảnh. Mỗi nhiếp ảnh gia đều có nhóm khán giả của riêng mình. Đây là nhóm người có khả năng đồng cảm, bị kích thích hay đơn thuần là thích thú với trải nghiệm mà hình ảnh đem lại. Nếu người xem không phản hồi cảm xúc mà bạn mong đợi, rất có thể họ không thuộc nhóm đối tượng hình ảnh của bạn.
Thứ hai, về trải nghiệm. Dù cho là sự đồng cảm về nhận thức hay trải nghiệm, thì người xem cũng phải từng được nhận thức (được dạy hoặc trải nghiệm tâm lý) tương tự với sự kiện trong ảnh. Nếu sự kiện trong ảnh nằm ngoài vùng trải nghiệm chung, thì rất khó để hình ảnh tiếp cận người xem






