Mục lục
Ngày nay nhiếp ảnh chiếm vị trí trung tâm tại hầu hết các triển lãm nghệ thuật đương đại. Vậy làm thế nào, và tại sao, nó trở nên phổ biến đến vậy?
Làm thế nào mà một phương tiện từng được coi là thứ yếu, bởi chính những nghệ sĩ, lại được đón nhận nơi ‘đỉnh cao’ của thế giới nghệ thuật? Và với sự kỳ diệu nào mà những bức ảnh của những phóng viên nổi tiếng quốc tế giờ đây được phân tích như những tác phẩm nghệ thuật ‘chính thống’?
Các tác phẩm sáng tạo kết nối giữa nhiếp ảnh và nghệ thuật
Nhìn lại, người ta có thể thoáng thấy những dấu hiệu báo trước về việc nhiếp ảnh cuối cùng đã được giới nghệ thuật chấp nhận. Đầu tiên và quan trọng nhất, đó là sự đột phá mở ra bởi các phong trào tiên phong khám phá của thập niên 1920, với các tác phẩm ghép ảnh, ‘rayographs‘, sự biến dạng và các thí nghiệm kỳ dị khác.
** Một thuật ngữ do Man Ray sáng tạo ra, trong đó ông kết hợp tên của mình với từ ‘photograph’ để mô tả cách tiếp cận đặc biệt của ông đối với kỹ thuật tạo ra ảnh trực tiếp. Cũng lâu đời như chính nhiếp ảnh, ảnh trực tiếp là những bản in nhiếp ảnh được tạo ra bằng cách đặt các vật thể và các yếu tố khác lên giấy nhạy sáng và phơi sáng dưới ánh sáng, không sử dụng máy ảnh.

Do đó, Man Ray, Andre Kertész, John Heartfield và Alexander Radchenko đã bắt đầu xây dựng cầu nối giữa nghệ thuật và nhiếp ảnh. Tuy nhiên, những tác phẩm của họ mang tính lẻ tẻ.
Nói ngắn gọn, chúng là những tác phẩm độc đáo được tạo ra bởi những cá nhân không quan tâm đến lý thuyết hóa hoặc tổng quát hóa những phát hiện của họ. Theo tinh thần phản truyền thống, Robert Rauschenberg vào thập niên 1950 đã tạo ra ‘tranh kết hợp’. trong sự kết hợp của đồ vật, hội họa và ảnh chụp.

Tuy nhiên, mối quan hệ lỏng lẻo giữa nhiếp ảnh và nghệ thuật đã nở rộ thành một sự kết hợp trọn vẹn sau mười năm với các bản in của Andy Warhol, trong đó hình ảnh các ông hoàng/bà hoàng nhạc pop được in thanhf áp phích trong loạt tác phẩm lớn từ chân dung chụp trong studio của ông hoặc thu thập từ báo chí.

Sự trỗi dậy của nghệ thuật Ý niệm
Ở nơi khác, các nghệ sĩ ý niệm Mỹ ‘đánh mùi’ thấy làn gió cách mạng vào cuối những năm 1980, đã đặt câu hỏi về tính cốt lõi của tác phẩm nghệ thuật. Do đó, họ đã đặt ra một số câu hỏi thích hợp? Làm thế nào có thể bỏ qua được sự chế giễu và sức mạnh của nó?
Một giải pháp nhanh chóng được chấp nhận: ‘tác phẩm’ nên là một sự thoáng qua hoặc phi vật chất, sống theo sự kiện và nghệ thuật ý niệm! Với nghệ thuật đến từ cơ thể, sử dụng chính xác thịt của nghệ sĩ làm vật liệu nghệ thuật và thúc đẩy một loại nghệ thuật tác động trực tiếp lên thiên nhiên, bằng cách sửa đổi một cảnh quan.


Ưu điểm của họ: một khi sự can thiệp, và khi màn trình diễn kết thúc, xin vui lòng đi tiếp, không còn gì để xem! Hoặc đúng hơn là có, nhưng không còn gì nhiều. Bởi vì những bản ghi duy nhất mà nghệ sĩ sở hữu về những khoảnh khắc sáng tạo thoáng qua này chỉ là một vài sơ đồ và ghi chú – hoặc ảnh chụp.
Robert Smithson, ví dụ, đã có ý tưởng táo bạo là chụp ảnh từ trên không của Solr Jetty năm 1970, một xoáy khổng lồ tạo bởi hàng tấn đá ở sa mạc Utah. Trong khi đó, John Baldessari tìm cách truyền tải sự ngẫu nhiên của thiên nhiên bằng cách biến mình thành một tác phẩm sống.

Ở giai đoạn này, nhiếp ảnh vẫn là một dấu vết, một dấu hiệu, một bản ghi chép thuần túy về một hành động được giới hạn trong thời gian. Nhưng dần dần khi các màn trình diễn của họ tiếp tục, những nhà thám hiểm tiên phong quả cảm này bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của những hình ảnh mà họ đang sản xuất.
Kết hợp nghệ thuật đa phương tiện
Nghệ thuật chụp ảnh dường như lỗi thời trong mắt họ, cách tiếp cận của họ đối với phương tiện và kỹ thuật ngày càng trở nên thuộc về phản xạ tự nhiên. Đồng thời, họ vui mừng vì cuối cùng đã kết thúc một số lý thuyết về nghệ thuật hiện đại – đặc biệt là của nhà sử học nghệ thuật Clement Greenberg, người đã giảng dạy rằng mỗi phương tiện cụ thể nên được hoạt động và phát triển ở dạng thuần khiết nhất.
Thực hành đa phương tiện báo trước một kỷ nguyên mới trong nghệ thuật sau hiện đại, xin chào nghệ thuật hậu hiện đại. Như Sol LeWitt tuyên bố “ý tưởng cũng có thể được thể hiện bằng số, ảnh chụp, từ ngữ hoặc bất kỳ cách nào tôi chọn, hình thức không quan trọng lắm”.
Trong cùng thời kỳ, các nhà báo ảnh, vốn đã bị ảnh hưởng bởi sự giảm thiểu các tạp chí tin tức nơi phát hành những bức ảnh mạnh mẽ của họ, bắt đầu cảm thấy cạnh tranh từ truyền hình. Nhiều người sau đó chuyển sang các bài luận ảnh dài hơn về bản chất xã hội học được thể hiện nơi bìa sách hoặc trong các bài đánh giá chuyên ngành, hoặc được trưng bày tại một trong những lễ hội mới dành cho nhiếp ảnh. Dần dần nhưng chắc chắn, các nhiếp ảnh gia và nghệ sĩ ngừng nhìn nhau như những sinh vật từ hành tinh khác.
Do đó, song song với việc đánh giá lại thực hành nghệ thuật, các nghệ sĩ đang tái sinh ngôn ngữ của họ thông qua nhiếp ảnh. Đối với các phòng trưng bày, họ đua nhau để trưng bày một loại tác phẩm báo trước sự trở lại của hình ảnh. Từ những năm 1880, trên hết là những tác phẩm quy mô lớn theo phong cách ‘tableau’ hội họa đã lấp đầy các phòng triển lãm.

Xem thêm bài viết Về nhiếp ảnh đương đại (Phần 01): Đổi mới trong cách thức tiếp cận nhiếp ảnh
Bản quyền bài viết thuộc về Beyond Photography, vui lòng không sao chép, reup dưới mọi hình thức.


