Ý nghĩa của hình ảnh được tạo ra như thế nào?
Mục lục
Ký hiệu học là gì?
Theo ký hiệu học truyền thống do Ferdinand de Saussure phát triển, một ký hiệu là mối quan hệ 2 chiều, chỉ bao gồm một dạng của dấu hiệu (cái biểu đạt) và ý nghĩa của nó (cái được biểu đạt).
Sau đó, dự trên lý thuyết của Ferdinand de Saussure, CS Peirce phát triển lý thuyết ký hiệu học khác. Lý thuyết này định nghĩa ký hiệu như một quan hệ bộ ba là “một cái gì đó đại diện cho một cái gì đó, cho một người nào đó trong một khả năng nào đó”. Điều này có nghĩa là một ký hiệu là một mối quan hệ giữa phương tiện ký hiệu, một đối tượng ký hiệu và một sự giải thích.
Vì thế, khi bàn về ký hiệu, chúng ta phải xem xét 03 khía cạnh sau đây:
- Cái biểu đạt (Signifier) là ‘tên gọi’ của ký hiệu. Đây là khía cạnh quan hệ giữa Ký hiệu với một ngôn ngữ cụ thể, giúp phân biệt Ký hiệu với những tín hiệu thông thường.
Các tín hiệu không thuộc ngôn ngữ tự nhiên hoặc một ngôn ngữ không lời nào đó ví như triệu chứng bệnh tật, hay báo hiệu mưa nắng … đều không phải là Kí hiệu. “Tên gọi” của Kí hiệu là cái được cộng đồng sử dụng ngôn ngữ quy ước, nên bao giờ cũng mang tính ước lệ.
Tóm lại, cái biểu đạt luôn là cái thuộc hệ thống ngôn ngữ rõ ràng, để có thể dùng để giao tiếp. Không phải những tín hiệu mơ hồ, đa nghĩa không thể dùng để giao tiếp.
- Cái được biểu đạt (Signified), hay là ‘nghĩa’ của Kí hiệu. Đó là khía cạnh quan hệ giữa Ký hiệu với một khái niệm hoặc ý tưởng nào đó.

Ví dụ, từ ‘cây cối’ khiến người nghe liên tưởng đến một dạng sống thực vật hay cụ thể là hình ảnh một cái cây nào đó trong đầu. Vì vật từ ‘cây cối’ là ký hiệu.
Lưu ý là, nghĩa hay cái biểu đạt là một dạng tư duy, một khái niệm hay hiện tượng đời sống thuộc về tư duy chứ không chỉ gợi đến bản thân đời sống. Bởi vì từ đầu ký hiệu được tạo ra trong bối cảnh ngôn ngữ học, vì vậy nghĩa của nó phải chỉ đến sự hiểu của người nghe khi tham gia hoạt động giao tiếp.
- Ý nghĩa, hay sự hoạt động của ký hiệu.
Ý nghĩa của ký hiệu được hình thành trong mối liên hệ giữa ký hiệu này và ký hiệu khác, hay giữa ký hiệu với người nghe/ người tiếp nhận trong hoạt động giao tiếp.
Cho nên, ý nghĩa bao giờ cũng có tính ngữ cảnh và tính quan niệm.

Phát triển mô hình bên trên, chúng ta có mô hình quan hệ 03 chiều giữa từ ‘cây cối’, cái cây ngoài đời thật và hình ảnh tư duy về cái cây của người tiếp nhận theo lý thuyết của CS Peirce.
Trong đó:
(1) Từ ‘cây cối’ là cái biểu đạt.
(2) Vật thể cái cây ngoài đời thật là cái tham chiếu bên ngoài, cái có thật.
(3) Hình ảnh tư duy về cái cây chính là sự diễn giải của người nghe về từ ‘cây cối’.
Đây là câu trả lời của nhà lý thuyết ký hiệu học cho câu hỏi triết học cổ điển về việc liệu một cái cây đổ trong rừng có gây ra tiếng động gì không nếu không có ai ở đó chứng kiến.
Câu trả lời là có và không: cây đổ tạo ra một tín hiệu mà chúng ta có thể gọi là “âm thanh”, nhưng nếu không có người giải thích tín hiệu đó thì nó không trở thành một thực thể hay ký hiệu có ý nghĩa.
Theo đó, tín hiệu ‘âm thanh’ này không được quy ước theo một hệ thống nào cả, vì thế nó không có khả năng giao tiếp. Vì thế, cần người giải thích biến đổi tín hiệu này thành ký hiệu có thể được hiểu (ví dụ như tường thuật lại sự kiện trên bằng lời hoặc bằng hình ảnh, sơ đồ,…).
Ba loại ký hiệu
Các ký hiệu có thể có nhiều hình thức. Chúng có thể là từ ngữ, con số, âm thanh, hình ảnh, tranh vẽ và biển báo giao thông, v.v. Tuy nhiên, các ký hiệu có thể được phân loại và cần được phân loại.
Từ cuối thế kỉ XIX, dựa vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, Charles Peirce chia Kí hiệu thành ba loại: Kí hiệu – hình hiệu (Sign – icon), Kí hiệu – chỉ hiệu (Sign – index) và Kí hiệu – biểu hiệu (Sign – symbol).


- Object: đối tượng ký hiệu – cái biểu đạt
- Referent: tham chiếu
- Interpretant: diễn giải
ICON – Hình hiệu
Như Peirce đã nói, “Tôi gọi một ký hiệu đại diện cho thứ gì đó chỉ đơn giản vì nó giống với nó là một hình hiệu (icon)” (1935b, 362).
Như được biểu diễn trong sơ đồ bên trên, Icon là dạng ký hiệu chỉ có mối liên hệ giữa đối tượng ký hiệu và diễn giải, không cần thông qua bước tham chiếu. Nói cách khác, Icon thể hiện chính xác những gì nó biểu đạt (chỉ có nghĩa đen).
Icon là hình ảnh thể hiện giống với vật thể đủ mạnh để có thể nhận biết là “vật thật”.
Như trong hình ví dụ bên trên, hình ảnh con chó chia sẻ nhiều đặc điểm tương đồng, giống với con chó ngoài đời thật. Vì vậy, hình ảnh này là Icon. Tương tự như ảnh chân dung của một người cũng là Icon – hình hiệu của người đó.
Khi nhìn vào ảnh chân dung, chúng ta lập tức liên tưởng đến hình ảnh người đó trong đầu, mà không cần phải thông qua bước đối chiếu với người thật ngoài đời.
Tương tự, khi nói về cụm ‘iconic’ (hình tượng) hay bị người ta hay nhầm lẫn cụm này là ‘biểu tượng’ (symbol) trong dịch thuật sang tiếng việt. Trong khi đó, iconic chỉ về một hình hiệu phổ biến, lâu đời được cộng đồng công nhận.

Ví dụ, khi nói về hình tượng Marilyn Monroe tung váy. Chúng ta không cần phải trải qua bước tham chiếu hình tượng này với một sự kiện ngoài đời nào đó mới có thể hiểu được, bởi vì chúng ta lập tức nghĩ về sự kiện này khi nhìn thấy tấm ảnh.
INDEX – Chỉ hiệu
Lời mô tả của Peirce về Index là “một ký hiệu đề cập đến đối tượng (object) mà nó biểu thị nhờ thực sự bị ảnh hưởng bởi đối tượng đó” (1935a, 248).
Cách thứ hai để hiểu một ký hiệu là biểu thị dựa trên một kết nối vật lý hoặc nhân quả giữa nó và đối tượng được chỉ đến của nó. Ký hiệu như vậy được gọi là Index.
Theo đó, đối tượng có tác động nhân quả tạo thành ký hiệu (như trong trường hợp lửa gây ra khói báo hiệu nó) hoặc có khoảng cách không gian – thời gian gần với ký hiệu của nó, có thể được sử dụng để hỗ trợ người giải thích ký hiệu nắm bắt đối tượng đó (như trong trường hợp chỉ tay vào một vật thể gần đó).
Như trong hình ảnh ví dụ về con chó, dấu chân chó là Index – chỉ hiệu của đối tượng là con chó. Bởi vì dấu chân là dấu vết mà con chó để lại, Index này được tạo nên nhờ sự tác động vật lý của con chó lên bề mặt nào đó.
Thêm vào đó, nhiếp ảnh có bản chất là dấu vết. Bởi vì những gì được chụp lại đều là kết quả và có thể gợi về sự kiện đã hình thành lên nó. Vì vậy, trong giao tiếp nhiếp ảnh, người ta thường sử dụng Index.
Symbol – biểu hiệu hay biểu tượng
Mô tả của Peirce về một biểu tượng (symbol) là “một ký hiệu đề cập đến đối tượng mà nó biểu thị nhờ một quy luật, thường là sự liên kết của các ý tưởng chung, hoạt động khiến cho biểu tượng (symbol) được hiểu là đề cập đến đối tượng của nó” (1935a, 249).
Cách thứ ba để hiểu một dấu hiệu là biểu thị dựa trên một quy ước hoặc luật lệ nào đó kết nối nó với đối tượng của nó.
Đọc thêm bài viết Phân tích ảnh: Sự liên kết của hình ảnh (Phần 05)
Điều quan trọng đối với biểu tượng (symbol) là phải tồn tại một số quy ước, thỏa thuận, thói quen hoặc luật lệ cơ bản để việc sử dụng một biểu tượng (symbol) nào đó sẽ gợi ra đối tượng liên quan của nó.
Ví dụ, đèn giao thông màu đỏ tượng trưng cho việc thiếu quyền ưu tiên tại ngã ba đường vì tất cả chúng ta đã đồng ý (theo thói quen, theo quy ước và theo quy định giao thông) sử dụng đèn giao thông màu đỏ theo cách này.
Xét đến ví dụ về con chó bên trên, từ ‘con chó’ chính là biểu tượng cho đối tượng là con chó. Từ ‘con chó’ không chia sẻ đặc điểm nào của con chó, nó cũng không phải là dấu vết hoặc bị con chó tác động lên mà hình thành. Từ ‘con chó’ là biểu tượng vì nó có thể THAY THẾ cho ý tưởng về con chó mà nó đại diện và có thể được hiểu khi giao tiếp.
Tóm lại
Hiểu biết về ký hiệu học là phần quan trọng để xây dựng tư duy nhiếp ảnh và phát triển hình ảnh của bản thân. Bởi vì nhiếp ảnh đơn giản là cách chúng ta giao tiếp bằng hình ảnh thay vì lời nói, vì thế ban đầu chúng ta phải học cách để giao tiếp hiệu quả để người tiếp nhận có thể hiểu được ý tưởng mình muốn nói đến.
Xem tiếp phần 02 tại Ký hiệu học (Phần 02)
Bản quyền bài viết thuộc về Beyond Photography, vui lòng không sao chép, reup dưới mọi hình thức.



