Dịch từ nghiên cứu Visual Storytelling in Hypermodernity: The Transformative Construction of Symbolic Realities Through Staged Photography, viết bởi Maribel Castro Díaz
Nhìn lại nhiếp ảnh cổ điển, hay còn gọi là nhiếp ảnh tư liệu, với quan niệm rằng nhiếp ảnh gia không được hợp tác với đối tượng trong ảnh hoặc can thiệp vào những gì xuất hiện trước ống kính, nhưng ngày nay chúng ta có thể khẳng định rằng nhiếp ảnh đã thay đổi đáng kể.
Vào cuối thế kỷ 20, trong bối cảnh hậu hiện đại, nhiếp ảnh được tái định nghĩa như một thể loại nghệ thuật mới, khai thác tính chất ‘tư liệu’ với khả năng ghi lại trực tiếp một thực tế một cách hàm ý.
Ngày nay, nhiếp ảnh trở thành một lãnh thổ của những thử nghiệm và là nơi diễn ra sự phóng chiếu mạnh mẽ của hiện thực vào hình ảnh, tìm kiếm sự thích nghi với những gì chúng ta có thể gọi là “triệu chứng của hiện tại”.
Trong bối cảnh này, một loại hình nhiếp ảnh nổi bật, cho phép người ta thực hiện các hành vi mô phỏng những vẫn giữ lại tính hiện thực, đồng thời trở thành phương tiện mới mẻ trong trải nghiệm thẩm mỹ đương đại.
Nhiếp ảnh dàn dựng thoát khỏi tính hiện thực tư liệu
Các tác phẩm của những nghệ sĩ được đề cập trong nghiên cứu này – chẳng hạn như Jeff Wall, Gregory Crewdson hay Mitra Tabrizian – thuộc vào bối cảnh thảo luận về lý thuyết và sự phát triển của nhiếp ảnh vào cuối thế kỷ 20.
Các nhà phê bình và lý thuyết gia như Roland Barthes, Rosalind Krauss, Douglas Crimp, David Campany hay Philip Dubois đều quan tâm đến những cách thực hành mới này, chúng thể hiện các liên kết và mối quan hệ phức tạp giữa tác giả, đối tượng, lịch sử, ký ức và người xem. Nhiếp ảnh, với phạm vi mở rộng của nó, đã trở thành một phương tiện nổi bật trong thế giới nghệ thuật (Edwards 2002).
Quy mô lớn của các tác phẩm nhiếp ảnh này trở nên quan trọng trong việc thu hút người xem. Như Jean-François Chevrier giải thích: “Chúng được thiết kế và sản xuất để treo trên tường, tạo ra một trải nghiệm trực tiếp từ phía khán giả, hoàn toàn trái ngược với các quy trình quen thuộc của sự tiếp nhận và phóng chiếu mà hình ảnh thường được đón nhận và tiêu thụ thời gian trước” (2003, 116).

Kể từ những năm 1970, hình ảnh nhiếp ảnh đã có tính sân khấu một cách tự ý thức, sử dụng những kỹ thuật làm cho người xem nhận thức được sự dàn dựng của các đối tượng và đồ vật. Việc sử dụng hiệu ứng điện ảnh và sân khấu đã dẫn đến sự ra đời của một thể loại mới trong nhiếp ảnh nghệ thuật, nơi mà những “chiến lược cho phép sự tự ý thức” giải phóng nghệ sĩ khỏi gánh nặng của ‘sự thật’ trong nhiếp ảnh. Theo Lori Pauli, những bức ảnh này sử dụng tính sân khấu như một công cụ để phản ánh về trải nghiệm xã hội (2006, 134).
Nhiếp ảnh dàn dựng thoát khỏi ” hào quang của tác giả”
Những bức ảnh này không được sử dụng để nói về trải nghiệm của nghệ sĩ, mà thay vào đó ám chỉ một khoảng cách, có thể gọi là mang tính văn học, giữa tác giả và những gì được trình bày.
Chúng mang đến những góc nhìn khác biệt so với cách thể hiện mang tính tư liệu về không gian và tình huống, hình ảnh mang lại nhiều lớp nghĩa và khơi gợi bí ẩn, tạo ra căng thẳng trong câu chuyện. Kathleen Edwards giải thích về điều này: “Quá trình mà chúng ta tạo ra cảm xúc và cảm giác khi quan sát câu chuyện đến từ những suy đoán, bao gồm toàn bộ hoạt động trí não từ nhận thức đến tư duy” (2002, 6).
Những bức ảnh của một số lượng lớn nghệ sĩ đã làm việc từ cuối thế kỷ 20, thể hiện các cảnh trí được dàn dựng theo kiểu sân khấu, những không gian nơi mà các sự kiện đang hoặc đã xảy ra, luôn có một góc nhìn được thiết kế cho người xem. Việc hư cấu hóa những điều bình thường và các mối quan hệ giữa con người liên quan đến việc sử dụng các hình ảnh của hiện thực.

Andy Grundberg (2003, 173) chỉ ra rằng nhiếp ảnh là một phương tiện rất phổ biến trong việc trao đổi văn hóa thông qua hình ảnh, và vì thế, nó tránh được cái gọi là “hào quang của tác giả” mà tư duy hậu cấu trúc đặt ra nghi vấn.
Ít nhất, nó làm được điều này ở mức độ lớn hơn so với hội họa hay điêu khắc và gắn liền hơn với văn hóa đại chúng và sản xuất hình ảnh tiêu dùng, do đó công chúng quen thuộc hơn với nó. Vì vậy, nhiếp ảnh hậu hiện đại tách khỏi tính khó hiểu của chủ nghĩa hiện đại và sự thống trị của tính tự quy chiếu, kết hợp với thế giới văn hóa mà nó là một phần của nó.
Nhiếp ảnh dàn dựng là một phong cách nghệ thuật linh hoạt và pha trộn, nó tương tác với các lĩnh vực như điện ảnh, quảng cáo, sân khấu, hội họa và văn học.
Trong nhiếp ảnh dàn dựng, yếu tố tư liệu là bề nổi, một công cụ để khai thác cái gọi là “tư liệu với tính nghịch lý” của nhiếp ảnh – những gì trông có vẻ như “đã từng ở đó” (Del Río 2002, 44-55). Tuy nhiên, loại nhiếp ảnh nghệ thuật này vẫn mang đến một khẳng định thị giác rõ ràng, cụ thể, độc lập và khép kín. Cơ bản, điều thực sự xác định nhiếp ảnh hậu hiện đại và siêu hiện đại chính là khả năng phân tích, đặc biệt là trong việc phê phán tính đại diện của tấm ảnh.
Tóm lại
Bài viết đề cập đến những ý chính sau:
- Trong khi nhiếp ảnh truyền thống, với đại diện tiêu biểu là nhiếp ảnh tư liệu, tôn trọng tính khách quan – tính sự thật, không can thiệp vào sự kiện được chụp của nhiếp ảnh gia; thì nhiếp ảnh dàn dựng là bước tiến mới cho phép nghệ sĩ mô phỏng, dàn dựng các sự kiện nhưng vẫn giữ tính hiện thực của hình ảnh.
- Bản thân nhiếp ảnh dàn dựng tạo nên những mâu thuẫn mang tính triết học về sự hiện diện, tính đại diện và sự thật; đồng thời đặt câu hỏi về thời gian, ký ức và mối liên hệ giữa tác giả – sự kiện được mô phỏng – tấm ảnh – người xem.
- Thay vì truyền thống nhiếp ảnh cho rằng tấm ảnh là ĐẠI DIỆN của sự kiện, thì nhiếp ảnh dàn dựng là sự PHẢN ÁNH của trải nghiệm. Nâng cao sự tự chủ, tự nhận thức trong việc tạo nên hình ảnh của nghệ sĩ.
- Trong khi nhiếp ảnh tư liệu tập trung vào sự thật, không chú trọng vào việc nhìn nhận hình ảnh của người xem; thì nhiếp ảnh dàn dựng tạo nên một mâu thuẫn giữa sự thật – mô phỏng, được tạo ra với kích thước treo tường và tự hình ảnh ẩn chứa nhiều câu hỏi và các lớp nghĩa. Từ đó, lôi kéo sự tham gia của người xem, liên kết trải nghiệm của người xem với tấm ảnh (trong một không gian, ngữ ảnh, tình hình xã hội cụ thể nơi người xem quan sát), vì vậy có thể nói rằng trải nghiệm của người xem là một phần của hình ảnh. Từ đó, nhiếp ảnh dàn dựng thoát khỏi tính tự quy chiếu/ tự phản ảnh của hình ảnh, tấm ảnh trở thành một phần trong dòng chảy văn hoá xã hội.
- Bởi vì lẽ trên, tấm ảnh hiện nay phổ biến hơn trong văn hoá tiêu thụ, từ đó tránh được cái gọi là ‘hào quang tác giả’.
Bản quyền bài viết thuộc về Beyond Photography, vui lòng không sao chép, reup dưới mọi hình thức.






