Xem trước bài biết Narrative Photography VS Storytelling Photography (Phần 01): Phân biệt
Mục lục
Tự sự thị giác tĩnh (Static Visual Narrative – SVN)
Mặc dù có từ “tĩnh” trong tên gọi, nhưng loại Tự sự thị giác tĩnh (SVN) vẫn sở hữu tính chuyển động. Tuy nhiên, đây là một loại “chuyển động” khác biệt; không giống như Tự sự thị giác động (Dynamic Visual Narrative – DVN, như phim hay video), sự chuyển động này không tự hiển thị mà đòi hỏi sự chủ động của người xem.
Sự khác biệt nằm ở trải nghiệm và cảm nhận về sự chuyển động theo thời gian (Etienne, 294; Gottlieb, 1958; Gombrich, 1964; Le Poidevin, 175). Trong tự sự thị giác động, bộ phim diễn ra theo các phân đoạn nối tiếp, còn trong tự sự thị giác tĩnh, hình ảnh bị đóng băng nhưng mắt di chuyển và trí tưởng tượng của người xem hoạt động.
Trong cuốn sách của mình, Lessing đề cập đến James Harris (1709-1780) là một trong những học giả hàng đầu gợi ý về khả năng truyền tải chuyển động theo thời gian thông qua hình ảnh, ông nói về hội họa:
“Hội họa chỉ có thể bắt chước bằng màu sắc và hình dạng. Nó chỉ có thể thể hiện một khoảnh khắc . Mặc dù bất động nhưng nó cũng có thể gợi ra chuyển động, âm thanh và cả hành động đã biết (nghĩa là lịch sử)” (Lessing, 1766: xvi).
Các đặc điểm đặc trưng của tự sự thị giác tĩnh là:
- Tự sự thị giác tĩnh được thực hiện bằng một phương tiện và chiếm một diện tích bề mặt nhất định. Ví dụ, một cuốn truyện tranh minh họa trải dài qua nhiều trang hoặc một bức tranh tường có thể bao phủ toàn bộ bức tường. Người xem phải khám phá toàn bộ diện tích bề mặt được bao phủ bởi hình ảnh để giải mã câu chuyện. Do đó, câu chuyện mở ra trên khắp không gian biểu diễn.
- Trong trường hợp của tự sự thị giác tĩnh, hình ảnh được cố định trên bề mặt của phương tiện. Nghĩa là nó về mặt vật chất không thay đổi. Le Poidevin định nghĩa “Hình ảnh tĩnh là hình ảnh thể hiện bằng các đặc tính phần lớn không thay đổi trong suốt quá trình tồn tại của nó” (Le Poidevin, 1997: 175). Ví dụ, một khi câu chuyện được vẽ hoặc in trên một tờ giấy, nó sẽ không thay đổi nhiều cho đến khi có thể bị phai theo thời gian.
- Tự sự thị giác tĩnh dựa vào kiến thức trước đó của người xem về câu chuyện. Chỉ khi đó, người xem mới có thể thực sự thích thú khi ‘đọc’ câu chuyện hình ảnh, vì mục đích của tự sự thị giác là thu hút người xem nhìn vào ‘bên trong’.
“Nhận thức” và “Trí nhớ” đóng vai trò quan trọng trong khía cạnh này. Người xem phải nhớ lại các sự kiện trong câu chuyện và khớp nối chúng với các sự kiện được miêu tả. Người xem đã biết những gì đã xảy ra (quá khứ) và những gì sắp xảy ra (tương lai) nhưng vẫn tham gia vào việc giải mã câu chuyện theo cách mà người thiết kế đã trình bày.

- Hình ảnh được cố định nhưng người xem hoặc mắt của người xem lại di chuyển linh hoạt. Tự sự thị giác tĩnh được ‘đọc’ bởi một người xem di chuyển đôi mắt, người này tìm kiếm các mối liên hệ giữa các cảnh được đặt cạnh nhau để truyền tải ý nghĩa.
Người xem lật các trang sách hoặc đứng trước một tấm bảng chạm khắc; chính đôi mắt di chuyển và khám phá hình ảnh. Souriau minh họa điểm này bằng ví dụ về việc ngắm nhìn một bức tượng.
“Chuyển động của anh ta (người xem) xung quanh bức tượng mang đến, theo một cách nào đó, theo nhịp điệu, các đường viền khác nhau, các hình chiếu khác nhau, bóng tối và ánh sáng; do đó, sự đánh giá đầy đủ nhất về tính phức tạp thẩm mỹ của tác phẩm chỉ đạt được bởi người xem khi anh ta di chuyển đôi mắt” (Souriau, 1949:295).
Theo đó, người xem có những ‘đặc quyền’ sau khi chiêm ngưỡng câu chuyện hình ảnh:
- Người xem quyết định tốc độ xem hình ảnh. Bản chất tĩnh của hình ảnh cho phép người xem di chuyển xung quanh hình ảnh một cách thong thả, cho phép dừng lại tại bất kỳ điểm nào trong thời gian dài ngắn tùy thích.
- Trong tự sự hình ảnh tĩnh, thứ tự xem không được xác định; người xem quyết định thứ tự xem. Người xem có thể lựa chọn bắt đầu xem SVN từ đâu. Biết được câu chuyện, người ta có thể quyết định bắt đầu xem câu chuyện từ bất kỳ điểm nào trong mạch truyện và đi ngược lại hoặc tiến về phía trước cho phù hợp. Thậm chí người ta có thể bắt đầu từ phần kết và xem toàn bộ câu chuyện theo kiểu hồi tưởng. Nói cách khác, SVN có thể được đọc từ đầu đến cuối, ngược lại hoặc bắt đầu in medias res (giữa câu chuyện) tùy theo sở thích của người xem.
- Người xem hoàn toàn kiểm soát thời gian chiêm ngưỡng, hay như Goswamy gọi là “thời gian xem xét kỹ lưỡng” – tức là thời gian dành ra để thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật một cách cẩn thận (Goswamy, 1998). Người xem có quyền kiểm soát thời gian xem câu chuyện hình ảnh.
- Chuyển động thị giác trong tự sự hình ảnh tĩnh là kết quả từ sự tham gia tích cực của người xem. Người xem phải nhìn vào hình ảnh, nhớ lại câu chuyện và tham gia vào quá trình tự sự.
Tự sự hình ảnh tĩnh đòi hỏi rất nhiều trí tưởng tượng của người xem. Vẻ đẹp của SVN nằm ở chỗ nó chỉ cung cấp các gợi ý cho câu chuyện dưới dạng hình ảnh. Người xem phải sử dụng những gợi ý đó làm cơ sở để xây dựng sự tự sự.
Vậy, một câu hỏi đặt ra là nhiếp ảnh gia làm cách nào để xây dựng tự sự hình ảnh tĩnh một cách có thể hiểu được để người xem tham gia vào quá trình kể câu chuyện?
5 mã tự sự của R.Bathers
R. Barthes trong sách S/Z (1970) nghiên cứu cách đọc tác phẩm Sarrasine của Balzac, đã nói đến năm loại mã để đọc hiểu tác phẩm tự sự. Đó là mã hành động, mã nghĩa tố, mã giải thích, mã tượng trưng, mã văn hoá.
Mỗi hành động của con người đều dựa trên chuỗi liên tục tự nhiên mà con người đã có kinh nghiệm. Vì thế, khi có một hành động nào đấy xuất hiện đều gợi ra cái hành động trước đó hay hành động sẽ tiếp theo sau đó.
- Mã Giải nghĩa (HER): Được sử dụng để kiểm tra các điểm không nhất quán, câu hỏi và các yếu tố bí ẩn phát sinh từ câu chuyện và cần được giải mã.
Ví dụ: Một bí ẩn chưa được giải đáp về danh tính của một nhân vật trong câu chuyện thúc đẩy người đọc tiếp tục tìm hiểu và khám phá.
- Mã Ngữ nghĩa (SEM): Được sử dụng để xác định các ký hiệu trong câu chuyện. Những ký hiệu này giúp xây dựng chất lượng và chiều sâu của nhân vật hoặc hành động.
Ví dụ: Hình ảnh con chim bồ câu thường biểu trưng cho hòa bình trong nhiều văn bản.
- Mã Biểu tượng (SYM): Được sử dụng để kiểm tra các mẫu biểu tượng được phản ánh trong các đối lập nhị phân cơ bản nằm trong cấu trúc sâu của câu chuyện.
Ví dụ: Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối có thể biểu trưng cho sự sống và cái chết hoặc thiện và ác.
- Mã Hành động (ACT): Được sử dụng để kiểm tra các hành động bằng cách phân loại chúng vào các trường ngữ nghĩa.
Ví dụ: Trong một tiểu thuyết trinh thám, việc thám tử tìm thấy một manh mối mới là một phần của mã hành động, tạo ra sự mong đợi về các sự kiện tiếp theo.
- Mã Văn hóa (REF): Được sử dụng để kiểm tra các chi tiết liên quan đến bối cảnh xã hội văn hóa của câu chuyện và kết nối với các thẩm quyền văn hóa và tư duy cộng đồng.
Ví dụ: Việc nhắc đến các sự kiện lịch sử hoặc các quy ước xã hội có thể gợi lên những kiến thức văn hóa mà người đọc đã biết.
Đọc thêm chuỗi bài viết Ký hiệu học để hiểu thêm về ngữ nghĩa trong giao tiếp hình ảnh nhé!
- Ký hiệu học (Phần 01)
- Ký hiệu học (Phần 02)
- Ký hiệu học (Phần 03): Ý nghĩa
- Ký hiệu học (Phần 04): Mã hoá và giải mã
Ví dụ, cùng nhìn lại tác phẩm quen thuộc của Gregory Crewdson.

Trong hình ảnh này, nhiếp ảnh gia Gregory Crewdson đã kết hợp tài tình các mã ngữ nghĩa để người xem cùng tham gia ‘đọc’ câu chuyện như sau:
- Mã giải nghĩa: đập vào mắt người xem là tình huống bí ẩn về một cô gái nửa sống, nửa chết trong không gian vô thực.
- Mã ngữ nghĩa: những ký hiệu được biểu thị bắng những manh mối để giải nghĩa về tình huống hiện tại của cô gái. Đào sâu hơn, thông qua cách tạo hình nhân vật và không gian kể truyện, nhiếp ảnh gia mô tả một cách ngụ ý về Ophelia bị áp bức trong ngữ cảnh thời hiện đại.
- Mã biểu tượng (những khía cạnh đối lập với nhau): tiêu biểu là trạng thái nửa sống, nửa chết của nhân vật chính. Bên cạnh đó, mã biểu tượng còn được biểu thị qua các chi tiết như sự tối tăm của căn phòng và ánh sáng ngập tràn bên ngoài cửa sổ, những màu lạnh và nóng đan xem trong căn phòng hay sự mỏng manh trong suốt của cô gái nằm giữa làn nước đen kịt,…
Những yếu tố đối lập này kích thích sự so sánh, nghi hoặc của người xem. Giúp câu chuyện được ‘kể’ bởi trí tưởng tượng trở nên phong phú và sâu sắc hơn.
- Mã hành động: tuy hình ảnh là tĩnh, tuy nhiên vẫn có những yếu tố gợi về hành động trong quá khứ của cô gái, chẳng hạn như đôi dép trên bậc thang, những quyển sách và hủ thuốc trên bàn hay tiêu biểu nhất là nước chảy tràn lan vào phòng,…
Tất cả mọi chi tiết xuất hiện trong tấm ảnh đều là manh mối để người xem kết nối và tưởng tượng về sự kiện đã diễn ra.
- Mã văn hoá: tiêu biểu là câu chuyện huyền thoại về nàng Ophelia trong tác phẩm Hamlet được sử dụng như một trong những ngữ cảnh để người xem tham chiếu đến.
Bên cạnh đó, nhiếp ảnh gia Gregory Crewdson còn ‘trêu đùa’ người xem bởi sự sắp xếp lộn xộn các chi tiết vượt thời đại vào tấm ảnh. Ví dụ, căn phòng và các vật dụng gợi về thời hiện đại những năm 2000s, tuy nhiên lại có những yếu tố ‘đến từ quá khứ’ như máy phát nhạc cổ điển hay ngọn đèn nến.
Theo đó, sự hỗn loạn về thời đạt diễn ra sự kiện lại trở thành một ‘manh mối’ để chứng minh cho sự điên loạn của Ophelia này.
Tóm lại
Narrative Photography hay Storytelling Photography đều thuộc loại hình tự sự thị giác tĩnh, trong đó cho phép người xem nắm quyền kể câu chuyện mà họ muốn, dù nhiếp ảnh gia có đưa ra cốt truyện cụ thể hay không. Bởi vì, như bài viết trước đã đề cập, hạn chế (và lợi điểm) của nhiếp ảnh nằm ở tính mơ hồ của nó, đây cũng là xuất phát điểm cho tính gợi mở của hình ảnh.
Tuy vậy, nhiếp ảnh gia vẫn phải kiểm soát sự tự sự của mình để làm sao người xem có thể hiểu trước tiên; và có khả năng đào sâu hơn vào cốt truyện cũng như các tầng ngữ nghĩa mà nhiếp ảnh gia muốn truyền tải.
Vì vậy, 5 mã tự sự của R. Barthes là tham chiếu đơn giản để chúng ta học tập; để đào sâu hơn Beyond Photography đã ra mắt chuỗi bài Ký hiệu học để mọi người tham khảo.
Hãy đón đọc phần 03 nhé!
Bản quyền bài viết thuộc về Beyond Photography, vui lòng không sao chép, reup dưới mọi hình thức.





